Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

Một vài cơn giật mình khi đọc Cao Việt Dũng

Trích "Văn học Pháp hiện nay: Không có thủ lĩnh" Cao Việt Dũng

Cao Việt Dũng
Rất nhiều người Pháp có thú vui đến các cửa hàng sách lớn như FNAC, Gilbert để đọc “cọp”, ở đó bày sẵn ghế dựa êm ái cho những độc giả mê sách nhưng không thích bỏ tiền ra mua.
(Cái này làm mình nghĩ đến Cafe Thứ bảy của Nhạc sỹ DT)

Số lượng kinh khủng đó được giải thích chủ yếu bởi sức làm việc của các nhà văn chuyên nghiệp. Thật đáng nể! Nhà văn nữ Amélie Nothomb ngay cả trong kỳ nghỉ cũng viết mỗi ngày bốn tiếng, dù cô chỉ xuất bản một phần ba những gì mình viết ra. Max Gallo (chuyên gia viết tiểu sử) ngày nào cũng dậy từ 5 giờ sáng để viết. Nhà văn gốc Nga Henri Troyat đã 93 tuổi nhưng vẫn coi viết là công việc không thể thiếu hằng ngày. Nỗi ám ảnh viết thực sự đè nặng lên họ, một ngày không viết trở thành địa ngục. Frédéric Dard mỗi ngày viết tới 25 trang. Một tối say rượu ông treo cổ tự tử, được cứu sống, mười lăm ngày sau ông lại tiếp tục viết...
(Niềm say mê hiện nay của mình là gì đây? lo quá, lo quá...)

họ gần như không quan tâm đến thời sự văn học, với thành kiến “hiện nay không có gì đáng đọc”.
(Hình như CVD viết về mình chăng, hic hic...)

Đọc Cao Việt Dũng, không hiểu sao mình nhớ da diết thời đi học của những say mê, mơ ước và mộng mị.
Trong lúc đi tìm CVD, lạng quạng vào 2 web này cũng thấy hay hay
http://bnok.vn/alexandria
http://vdcnews.socbay.com

Có một thế hệ nhà văn - sinh viên du học - Cao Viet Dũng

Mở rộng về chủ để, thay đổi về cách viết, tìm đến với những lối diễn đạt khác, các nhà văn trẻ Việt Nam, những người từng sống ở nước ngoài hoặc là sinh viên du học, đang có đóng góp mới mẻ và đa dạng...

Một diện mạo văn chương mới

Có lẽ bức tranh văn chương Việt Nam đã thay đổi. Cách đây vài năm, các nhà văn hải ngoại đã thực hiện một chuyển dịch nho nhỏ cả về đề tài lẫn ngôn ngữ. Nguyễn Danh Bằng, Thuận, Mai Ninh, Lê Minh Hà, Lê Ngọc Mai, Đoàn Minh Phượng... người đưa vào một tiếng Việt biến hóa khá nhiều, người đưa về tiếng Việt của vài chục năm trước, thứ ngôn ngữ người ta không còn dùng nữa nhưng vẫn nằm tiếc nuối trong những tâm hồn giàu niềm hoài cổ.

Có lẽ bức tranh ấy hiện nay còn thay đổi nhiều hơn nữa. Một thế hệ nhà văn - sinh viên du học đang xác lập một tiếng Việt mang tính ngoại lai nhất từ trước đến nay. Văn chương của họ không còn thuần miêu tả phong cảnh, nỗi lòng hay những cảnh ngang trái trong xã hội. Văn chương đó cũng không còn đồng nhất. Thế hệ các nhà văn trẻ này viết văn chương của riêng mình, không quan tâm nhiều đến các khuôn vàng thước ngọc, và rất ít mặc cảm.

Vài năm trước, Phan Việt (tập truyện ngắn Phù phiếm truyện) và Ngọc Cầm Dương (tập truyện ngắn Vấn tóc) đi thoáng qua đời sống văn học Việt Nam như những bất ngờ vui vui. Họ là những người báo hiệu cho một loạt nhà văn trẻ viết văn trên ghế trường đại học ở một nơi nào đó bên ngoài Việt Nam. Trong số đó, hai người có bản năng văn chương mạnh mẽ hơn cả có lẽ là Nguyễn Nguyên Phước với tập truyện ngắn Thượng đế & đất sét (Kiến Thức và NXB Phụ Nữ, 2007) và Vũ Phương Nghi với tiểu thuyết Chuyện lan man đầu thế kỷ (Kiến Thức và NXB Lao Động, 2006).

Tác giả Phan Việt.
Tác giả Phan Việt.

Với sự xuất hiện của Vũ Phương Nghi, có lẽ những người sinh vào nửa đầu thập niên 1980 đã có nhà văn của mình. Một nhà văn đích thực, với chỉ một cuốn tiểu thuyết đầu tay. Tôi còn muốn nói hơn thế, nhà văn dày dặn nhất cho đến giờ phút này, người từng khiến nhà văn Nguyễn Khải phải kinh ngạc và có phần bàng hoàng. Khi một nhà văn đích thực xuất hiện, thì đó không phải là một cuộc trình làng một giọng văn, mà là một ẩn định giọng văn.

"Thầy tôi là một người kỳ quặc. Ông luôn thể hiện mong muốn làm những điều đặc biệt" (Thuyết tiến hóa ngược). "Cả hai chúng tôi đều cô đơn trong cách diễn đạt của mình" (Tâm trạng khi điên). Những câu văn của Nguyễn Nguyên Phước rất có thể trở thành đích ngắm cho các nhà ngôn ngữ học purist, nhưng mặt khác, chúng đang chứng minh rằng ngôn ngữ rất không có khuôn mẫu, và không có tính kế thừa nhất định. Và đang thay đổi rất nhanh. Có lẽ đã đến lúc tiếng Việt được cung cấp những khả năng diễn đạt mới mẻ, điều mà ngôn ngữ nào cũng xứng đáng được hưởng.

Ở "bên rìa" hơn, nhưng hết sức sống động và đáng yêu, là các tập du ký, thể loại vốn chỉ có vị trí rất mờ nhạt trong lịch sử văn học Việt Nam, và cũng chỉ được các nhà văn hạ cố để mắt đến, hoặc là viết theo hợp đồng, giống như các nhà văn viết về nước Mỹ sau khi được mời sang tham quan theo các chương trình văn hóa hợp tác, hiện tượng sôi nổi của vài năm trước đây.

Nhiều bài du ký đó cũng được ký tên sinh viên du học, có thể tìm được dễ dàng trên mạng Internet, và cũng có khi được in ra: Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương (NXB Trẻ, 2007, 44.000đ), tập "du ký châu Âu" của Ngô Thị Giáng Uyên, những bài viết thơm mùi hoa xứ lạ nồng nàn hương vị cà phê: Irish coffee, Capuccino hoặc Greek coffee pha bằng ấm ibrik, nhưng vẫn không quên cà phê sữa đá gần chợ Bến Thành.

Nhà văn Thuận.
Nhà văn Thuận.

Định danh và sự mới mẻ

Một đặc điểm rất dễ thấy của các nhà văn sống lâu ở nước ngoài: tên riêng mà họ đặt cho các nhân vật của mình hoặc mang màu sắc địa phương nơi họ sống, hoặc mang tính thế giới cao độ. Thuận, nhà văn sống ở Pháp, rút gọn luôn tên của nhân vật chính của mình thành T. (T mất tích, Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn, 2006). Cũng giống như K. của Kafka, T. có tính chất phổ quát hơn nhiều so với Thanh, Tú hoặc Thuận. Nó có thể là Tanah, là Tina (Tumer), hoặc bất kỳ cái tên nào khác, vừa mang tính cá nhân vừa mang tính phổ quát.

Chuyện lan man đầu thế kỷ cũng có một giọng văn và cách đặt tên riêng không thể Trung Quốc hơn: nhân vật nữ chính là Nguyễn Kỳ Cầm, nhân vật suýt trở thành người yêu của nhân vật chính là Trương Thiện Lương. Người bạn ở cùng nhà với "hủ nữ" Nguyễn Kỳ Cầm tên là Doanh (tất nhiên là chúng ta nghĩ đến Doanh Chính), và đến cả chị người Thái Bình quê đặc sệt cũng nhất định phải tên là Diêu. Và, điều rất không nên bỏ qua: cái tên của chính tác giả cũng rất Trung Quốc: Vũ Phương Nghi (một chút thông tin tiểu sử: sinh năm 1983, hiện du học ngành mỹ thuật ở Thượng Hải).

Họ đã đến, và đã góp mặt. Không còn nghi ngờ gì nữa, những đoán định mơ hồ về một "trào lưu" mới mẻ từ những tập truyện của Phan Việt hay Ngọc Cầm Dương đã thật sự trở thành hiện thực. Dòng văn học trẻ trung này giống như một đối trọng và bổ sung hợp lý, cần thiết cho các nhà văn trẻ chung một ý hướng cách tân với những biểu đạt khác, thể hiện rõ ràng nhất trong hai tập truyện ngắn gần đây, Truyện ngắn 8XVũ điệu thân gầy, nơi tập trung một số lượng không nhỏ các nhà văn trẻ trong quá trình định hình phong cách và định danh trong nền văn chương nhiều biến động hiện nay.

(Nguồn: Thể Thao & Văn Hóa)

Dịch giả Cao Việt Dũng: Người biết ngoại ngữ thì nhiều, dịch giả vẫn hiếm

TTCN - Sinh năm 1980, học cấp III tại Trường Hà Nội - Amsterdam, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội năm 2002. Từ 2002 là sinh viên Trường École Normale Supérieure ở Paris - nơi xuất thân của những tên tuổi lớn của thế giới như Louis Pasteur, Jean-Paul Sartre… và của VN như Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo… - đồng thời cũng là nghiên cứu sinh cao học tại Đại học Sorbonne, khoa văn học hiện đại. Đã dịch nhiều tác phẩm.

* Tính đến thời điểm này (tháng 8-2005), anh đã và đang dịch bao nhiêu tác phẩm?

- Tôi đã dịch một vài tiểu thuyết của Milan Kundera, V. S. Naipaul và Michel Houellebecq. Hiện nay tôi đang chỉnh sửa bản dịch Hạt cơ bản của Houellebecq, dù biết để in được tiểu thuyết quan trọng này cũng không dễ. Tôi cũng đang hoàn thiện Sản nghiệp nhà Rougon, tập đầu của bộ sách lớn Gia đình Rougon - Macquart của Émile Zola, bản dịch mà tôi đã bắt tay làm từ cách đây 10 năm.

Trong số những công việc đang làm, tác phẩm mà tôi cho là có giá trị lớn là Những cuộc đời song hành của nhà văn Hi Lạp Plutarque (trước đây các học giả VN thường nhắc đến dưới cái tên Gương danh nhân, dựa vào bản dịch tiếng Pháp) mà tôi đang tổ chức thực hiện cùng nhóm Alphabooks và sẽ sớm ra mắt. Cách đây hai ba năm tôi và một số bạn bè đã dịch một phần nhỏ của tác phẩm này và xuất bản ở NXB Trẻ dưới cái tên Những anh hùng Hi Lạp cổ đại, vừa tái bản. Ngoài ra, do lĩnh vực mà tôi được đào tạo chính qui là lý thuyết văn học, tôi cũng có một số dự án dịch thuật về lý thuyết của Pháp.

* Tại sao anh lại chọn Milan Kundera làm xuất phát điểm cho việc dịch? Anh đánh giá như thế nào về việc dịch tác giả này tại VN?

- Cho đến nay đã có hai tiểu thuyết của Milan Kundera do tôi dịch được in: Cuộc sống không ở đây và Điệu valse giã từ. Năm vừa qua tôi viết một luận văn tốt nghiệp bằng master 1 ở Đại học Sorbonne, lấy đề tài văn bản và liên văn bản của Milan Kundera.

Nhân dịp đó, tôi có điều kiện xem lại tất cả các bản dịch ra tiếng Việt tác phẩm của Kundera ở VN và nhận ra một số vấn đề, không chỉ về dịch thuật mà cả về cách hiểu tác giả. Tôi rất mong có dịp các tác phẩm của ông được tái bản ở VN để có cơ hội chỉnh sửa cho chu toàn, vì dẫu sao dịch Kundera cũng là một hiện tượng trong ngành dịch thuật VN - hiếm có tác giả đương đại nào được dịch nhiều và kỹ nhưng lại ít được giới thiệu, nghiên cứu đầy đủ như Milan Kundera.

* Khi mới bắt tay vào, anh thấy cái khó của công việc dịch là gì?

- Dịch thuật là một công việc tuần tự. Khó khăn đầu tiên mà bất kỳ người dịch nào khi mới bắt đầu đều gặp phải là không biết dịch tên sách ra sao. Tại sao tôi lại dịch là Cuộc sống không ở đây trong khi từ nguyên bản cho đến các bản tiếng Anh, tiếng Pháp đều là “Cuộc sống ở chỗ khác” (“Life is elsewhere” và “La vie est ailleurs” - nhà văn Nguyên Ngọc trước dịch là “Cuộc sống ở mãi ngoài kia”)?

Nếu không giải quyết được vấn đề này thì tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ có dũng khí dịch vào nội dung. Tên nguyên bản tiếng Czech là Zivot je jinde, giống như một câu thơ. Tôi quyết định dịch tên truyện là Cuộc sống không ở đây để nó mang cái tinh thần thơ của Milan Kundera, khi ông vừa “thoát” khỏi vai trò nhà thơ để quyết liệt trở thành tiểu thuyết gia.

Những ý kiến về các vấn đề cụ thể của thế hệ dịch giả đi trước cũng giúp ích không nhỏ. Tôi còn nhớ mình đã sung sướng thế nào khi đọc trên tạp chí Văn Học Nước Ngoài số đầu tiên, năm 1996, một bài phỏng vấn trong đó dịch giả Phan Ngọc phân biệt hai từ “những” và “các”. Không dễ mà phân biệt được những điểm tế nhị đó.

Kể từ khi đọc bài báo, tôi cũng tự đặt cho mình nhiệm vụ suy nghĩ về những cặp từ gần nhau, chẳng hạn “không” và “chẳng”, và nhận ra hiện nay các dịch giả VN có xu hướng dùng rất nhiều “chẳng” thay vì “không”, qua đó đưa quá nhiều ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết, trong khi theo nhận xét của riêng tôi, phần lớn các ngôn ngữ châu Á, trong đó có tiếng Việt, đều có sự khác biệt không nhỏ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

* Còn bây giờ, sau khi dịch một thời gian đủ lâu và đã có kinh nghiệm, anh thấy cái khó là gì?

- Những khó khăn mà công việc đặt ra trước mắt người dịch thì nhiều vô kể. Cho đến giờ, khi đã có ít nhiều kinh nghiệm, tôi cho rằng cái khó nhưng cần thiết mà mỗi người dịch phải làm là có một tư thế dịch đúng đắn, và kiên quyết đi theo nó. Nói nôm na mỗi dịch giả tự xây dựng cho mình một lộ trình và một lý thuyết, một khoa học riêng vì dịch thuật không thể là một công việc tùy ý, tuân theo bản năng. Hãy thử đặt câu hỏi tại sao trước kia ta đã có “Mai Nương Lệ Cốt”, đã có “An Na Kha Lệ Ninh” mà sau này đều phải đổi lại theo tên nhân vật trong nguyên bản?

Theo tôi hiểu, khi xảy ra tiếp xúc văn hóa ở giai đoạn đầu tiên, người ở vị thế “nhận” nhất định sẽ có xu hướng cố kéo cái văn hóa lạ thành ra của mình, một thao tác hết sức lôgic, nó giúp người đọc dễ chấp nhận cái mới hơn. Nhưng sau khi nền văn hóa kia đã trở nên phần nào quen thuộc, cái tâm lý đó không thể giữ được nữa. Ngày nay hiếm dịch giả nào còn phiên âm tên nước ngoài. Có thể nhiều người nghĩ việc đó là tự nhiên, nhưng tôi nghĩ đây là một vấn đề rất thú vị: nhiều chuyên gia về dịch thuật thế giới đã gọi chính xác tên của xu hướng “vơ tất cả cho mình” dưới cái tên “ethnocentrisme”, lấy văn hóa của mình làm thước đo cho mọi nền văn hóa khác.

* Anh có thể cho một ví dụ cụ thể hơn?

- Tôi có thể lấy một ví dụ về thái độ dịch này: Bùi Giáng ngày xưa dịch Sylvie của Nerval thành Mùi hương xuân sắc chẳng hạn. Tôi cũng thích cái tên đó, đơn giản vì nó hay, nhưng không thể biến cái tên Sylvie vốn rất nổi tiếng của Nerval thành Mùi hương xuân sắc được. Như thế là trong tam giác quan hệ: văn bản gốc - dịch giả - độc giả; một dịch giả như Bùi Giáng đã coi trọng quan hệ dịch giả - độc giả hơn là quan hệ giữa ông và tác giả. Xu hướng này ở VN đến nay vẫn vô cùng phổ biến. Theo tôi nghĩ, trong dịch thuật có hai thái cực: một giống như tình trạng dưới cái tên “ethnocentrisme” kia, mà tôi gọi nôm na theo lối Vũ Trọng Phụng là Tyvn (Tôi yêu Việt Nam), một là tôn sùng quá mức văn bản gốc.

Trước năm 1975 ở Sài Gòn có bản dịch kịch Les Mouches của J.P. Sartrel (Phùng Thăng dịch) thành Những ruồi, gây ra bao lời chê bai. Đó là một ví dụ về tôn sùng quá mức văn bản gốc. Nhưng ngược lại, ví dụ phải chọn giữa “Những ruồi” và “Ruồi bâu” (Việt hóa tối đa), bản thân tôi sẽ chọn cách trung thành với Sartre. Lý tưởng của dịch thuật là nằm được ở chính giữa hai thái cực trên. Đó cũng là con đường đi của tôi, vì dù thế nào đi nữa dịch giả cũng không thể bỗng nhiên mà biến thành tác giả được.

Tôi cũng đã chịu nhiều chỉ trích vì cách dịch, nhưng trong công việc này tôi coi trọng cái mà tôi tạm gọi là “đạo đức dịch thuật”: tôi buồn vì khi dịch làm sai đi một chi tiết nào đó trong bản dịch hơn là vui vì được khen vì đã làm ra được một bản dịch “nhuần nhuyễn về tiếng Việt”, dù tôi luôn tìm cách trau dồi tiếng Việt, kể cả bỏ ra không ít thời gian học Hán - Nôm.

* Theo anh, chỉ giỏi ngoại ngữ thôi, có dịch được không?

- Thật ra dịch cũng giống như việc ca hát: nhiều người hát được nhưng hiếm người trở thành ca sĩ, thành ca sĩ giỏi lại càng khó. Hiện nay nhiều người biết ngoại ngữ, thậm chí biết nhiều ngoại ngữ, nhưng người dịch văn học thì hiếm. Điều đó vô cùng dễ giải thích. Việc gì phải đâm đầu hàng tháng trời dịch hàng trăm trang sách mà kết quả thì kẻ chê người khen ì xèo hết cả, tiền công thì không đủ ăn phở một tháng, trong khi giá dịch tài liệu cho các dự án nước ngoài (công việc mà thỉnh thoảng tôi cũng làm, nếu có người giao cho) là 9 hay 11 USD một trang gì đó, sau khi “lại quả” cho người trung gian, vẫn còn nặng túi!

Vả lại, tôi cũng đã từng gặp những trường hợp học ngoại ngữ rất nhiều năm, thực hành thường xuyên, nhưng không dịch đúng nổi dù chỉ một câu của một văn bản khó hơn bình thường một chút. Điều đó giải thích vì sao người biết ngoại ngữ thì nhiều mà dịch giả thì vẫn hiếm như xưa.

* Những dịch giả và bản dịch ra tiếng Việt mà anh thấy tâm đắc hoặc yêu mến?

- Tôi kính trọng và học được nhiều từ các dịch giả lứa trước và cả những người bạn cùng làm chung công việc với tôi. Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Dương Tường, Trần Đình Hiến đều có dịch phẩm để đời, các dịch giả cũ của Sài Gòn đem lại những làn gió rất mới mẻ. Hiện nay cũng không ít bạn dịch mà tôi hết sức quí trọng và trao đổi được nhiều vấn đề: Trần Tiễn Cao Đăng, Đinh Bá Anh, Hải Ngọc, Phùng Ngọc Kiên…

* Cuối cùng, anh nghĩ gì về môi trường & thực trạng dịch thuật hiện nay ở VN?

- Trong lịch sử VN hiếm khi nào dịch thuật trở thành một đề tài cho cả xã hội quan tâm như ngày nay. Báo chí đã lên tiếng rất nhiều nhưng mới chỉ là gãi được lớp vỏ bên ngoài của dịch thuật. Công việc thì rất nhiều, nếu phải góp một ý kiến với các bạn dịch khác thì tôi xin phép được nhắc lại “dịch thuật là một công việc tuần tự” và có khả năng được hoàn thiện dần theo thời gian. Những lời khen chê chỉ thuần túy là chuyện bên lề.

VĂN BẢY thực hiện

Các bài báo khác của Cao Việt Dũng

Blog của Dũng: http://nhilinhblog.blogspot.com/

áo T-shirt kẻ caro

Xinh dã man! Nhưng áo sơ mi chỉ dành cho các em mảnh mai thôi... huhuhu....













Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009

Bánh rán mặn

Dân Hà Nội hay ăn vặt và nhớ dai, cô nào trót dại bán bánh kém, hoặc bánh ế vừa nguội vừa dai, thì lần sau họ cạch đến già. Buổi chiều, ngồi hàng cờ tướng, thường thấy một chị trung niên, tay xách làn bánh rán mặn và các chai tương ớt, vai khiêng đĩa bánh rán mật và đường đi qua. Cô này người Hà Nội, tính rất dịu dàng, bánh thì miễn chê, không cao thủ cờ tướng nào không làm một hai cái bánh. Nhưng cô đi rất nhanh, chỉ từ bốn rưỡi đến năm giờ kém mười lăm thôi. Lúc đó là giờ tan lớp của một trường học gần đó, cô tranh thủ bán cho các cháu, loáng một cái là hết sạch.

Bạn mua một cái bánh mặn, cắn thủng nhẹ một đầu, dốc vào đầy tương ớt pha loãng, rồi ăn nhồm nhoàm khiến tương ớt trào ra cả râu và tay. Thế là qua một ngày bận rộn.

Phan Cẩm Thượng

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2009

Một câu chuyện giống như cổ tích

Đọc truyện này buồn, nhớ truyện của Nguyễn Ngọc Thuần, hồi tưởng về tranh của Nguyễn Q.H, những tác phẩm về những miền tuổi thơ mơ màng, đơn côi với những suy nghĩ riêng tư. Có nét gì đó như những trang chuyện tranh Nhật Bản, mơ màng và xao xác...

Bãi trâu thần

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

TTCT - Trong ký ức tuổi thơ tôi, mỗi chiều là một cuộc chia tay. Khi mặt trời còn lại chút ánh sáng nhuộm đỏ bầm hàng cây trâm bầu ngoài ruộng, khi đám vịt chạy đồng bị lùa về chuồng, tiếng kêu xao xác lẫn trong tiếng ếch nhái uềnh oang, cha tôi ngồi ngoài bậc cửa, tôi đi ra bãi sông, đứng nhìn má tôi đẩy chiếc xuồng nhỏ xa bờ, nói với lại: “Vô nhà đi! Sáng má về!”.

Lần cuối tôi đòi theo là năm tôi vào lớp 1. Từ đó, chiều nào tôi cũng đợi bóng má khuất hẳn bên kia bờ là nhảy xuống sông, mấy lần hụt chân, sặc nước thì bơi được. Nhưng sông rộng lắm! Sức một đứa trẻ sáu tuổi dù biết bơi cũng không thể vượt qua, chỉ đứng ngẩn ngơ nhìn, cứ như nước đã cuốn má tôi đi đâu mất...

Đêm bãi sông rất lạnh. Tôi cuộn mình như con tôm trên giường tre, lấy mền đậy kín mặt. Thảng đôi khi nửa đêm thức giấc, tôi bật khóc rấm rứt. Nghe tiếng khóc, cha tôi vào buồng ẵm tôi ra giường ngoài, nơi ông ngủ, rồi dỗ tôi bằng giọng nói nhừa nhựa của người bị suyễn kinh niên: “Ngủ đi! Ngủ đi!”. Ông không biết hát ru, dẫu có biết cũng chẳng có sức để hát! Tôi mếu máo hỏi: “Má đâu, ba?”.

Cha tôi lặng thinh, lâu lắm mới nói: “Má đi làm! Ngủ đi, sáng má về!”. Tôi vẫn không ngủ được, mơ hồ nghe tiếng gió rít ngoài sông, tiếng cỏ lác thở rì rào, tiếng chân những con vật to xác giẫm nặng nề trên lớp bùn non nhão nhoét. Tôi lơ mơ hỏi: “Tiếng gì vậy?”. Cha tôi ra hiệu bảo tôi làm thinh, rồi ngóng mắt nhìn ra ngoài sông qua kẽ hở cửa sổ, hồi lâu mới quay lại thì thầm: “Trâu thần lên ăn cỏ”.

Tôi lồm cồm bò dậy, mắt nhắm mắt mở, thò đầu ra ngoài. Chẳng thấy gì ngoài bóng đêm mịt mùng. “Có gì đâu?”. Cha tôi cười: “Mày làm động, bầy trâu nhào xuống sông mất rồi”. “Sao nhanh vậy!”- tôi thở dài tiếc rẻ. Ông khoát tay: “Trâu thần mà. Thôi, ngủ đi!”. Tôi nằm xuống lim dim mắt, quên mất là mình vừa khóc vì nhớ má.

Trong trí tưởng tượng trẻ con chỉ còn chập chờn hình ảnh những con vật khổng lồ, sừng dài nhọn hoắt, thường đi lên từ dòng sông vào những đêm trăng sáng. Lông chúng màu vàng nhạt, da trắng nhờ nhờ ướt đầm nước như lớp màn trong suốt, óng ánh. Thật nhẹ nhàng, tôi thấy mình ngồi trên lưng trâu thần rẽ nước đi qua sông. Sông rộng không cùng, đi mãi, đi mãi chẳng bao giờ tới bờ...

Đến sáng, khi má tôi bơi xuồng về nhà, cha tôi lại ra ngồi ngay bậc cửa, ánh mắt có lúc xa xám, ảm đạm, cứ nhìn má tôi trân trối như một người khách lạ; có lúc lại giống hệt lửa cháy, cứ rừng rực khiến người nhìn phát sợ. Má cúi đầu xuống, gương mặt hốc hác, mắt ngấn nước, đôi môi mỏng, khô nứt nẻ cứ run run chẳng biết đang mếu hay đang cười. Không có tiếng cãi vã, chửi mắng, chỉ có không khí yên lặng như đông cứng lại trong ngôi nhà côi cút trên bãi sông.

Tôi nghĩ: má làm gì nên tội? Má đi làm công cho nhà ông Bảy Trọc bên sông từ chiều đến sáng hôm sau, những công việc lặt vặt: gánh nước, giặt giũ, nấu nướng, chăm sóc cho đám con cháu nhà chủ. Tiền công dành để mua thuốc cho cha tôi. Không có thuốc, cơn suyễn hành hạ ông sẽ vật vã cả đêm. Những lúc ấy ông giơ cánh tay đập vào ngực: “Trời ơi, sao không chết đi cho rồi!”.

Một người chồng quanh năm đau ốm, quanh năm cần tiền thuốc thang. Một đứa con mười năm trời sống cảnh đêm đêm vắng mẹ. Và người chồng biết chắc vợ mình không chỉ đi làm việc vặt cho nhà người ta. Họ tồn tại như vậy giữa cõi người mà tác giả quả quyết rằng nó thật sự đìu hiu. Nếu con người không tự ru mình bằng những câu chuyện huyễn tưởng thì họ sẽ vượt qua ngày tháng bằng gì? Dù cho bi kịch ở dạng nào thì con người muôn thuở vẫn cần khám phá chính mình để được sống tiếp bằng một cuộc sống khác trước.

Loại truyện có câu chuyện để bắt đầu, có không khí trang trọng để bao bọc và có cửa hậu để con người bước ra hít thở và san sẻ. Tác giả là một thầy giáo đã 23 năm trên giảng đường Đại học Cần Thơ, một tiến sĩ ngữ văn, viết và in đã nhiều, có ba truyện ngắn được dựng thành phim truyền hình. Nguyễn Kim Châu yêu thích thủ pháp truyện ngắn chân phương, truyền thống, và dù không có nhiều thời gian cho văn chương nhưng truyện nào của anh cũng đứng được.

DẠ NGÂN

Tôi không giận má, chỉ buồn một nỗi chưa bao giờ được đến chơi chỗ bà làm. Tôi đánh liều hỏi: “Má, cho con qua bển chơi nghen?”. “Không!”- má buột miệng nói như đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. Tôi hỏi cha tôi: “Ba, cho con qua bển chơi thăm má, nghen?”. Ông nhìn tôi, mặt dại đi, ôm ngực ho rũ rượi, hồi lâu mới thều thào: “Không!”.

Tôi đi ra ngoài bãi, nhìn dòng sông, tự hỏi: Có cái gì bên kia mà ai cũng giấu tôi? Có cái gì đó cha tôi biết mà tôi không thể biết? Tôi có còn nhỏ nữa đâu, giờ đã 16 tuổi rồi, cái tuổi hiếu kỳ muốn biết tất cả. Bao lần tôi lén cha bơi qua sông mà chưa lần nào đến bờ. Tôi chỉ bơi tới giữa sông, hai phần ba sông, có lần chỉ còn cách bờ vài chục mét nước rồi... dừng lại.

Nỗi sợ hãi thời nhỏ tràn về khiến đôi chân như căng cứng, tê dại. Thế là tôi bơi trở lại bờ bên này mà chốc chốc cứ ngoái nhìn bờ bên kia. Rồi giận và buồn, tôi nín thở, thụp đầu xuống nước, có cảm giác như bị quẳng vào một vùng tối nhờn nhợt, trơn ướt. Nỗi cô đơn vây bủa như tấm lưới siết lấy con cá nhỏ. Những mắt lưới nhám, nhọn chà xát, xuyên thấu vào từng lỗ chân lông khiến da thịt nổi gai trong cảm giác ớn lạnh. Tôi vừa sợ vừa thích bởi ở đó nước xoa dịu trái tim bức bối khiến tôi cảm thấy thanh thản, yên bình.

Vẫn là một thói quen: hễ dìm mình xuống sông là tôi mở mắt. Tôi hi vọng tìm thấy một vùng đất.

Cha tôi kể: nơi đó dưới đáy sông, chỗ vực xoáy nước cuộn tròn hình phễu, hút lấy và làm biến mất tất cả, từ chiếc xuồng ba lá xấu số đến mảnh lục bình trôi dạt. Có một vùng sáng lóa, rực rỡ, dấu hiệu cho biết một cánh cửa đột ngột mở ngỏ chỉ dành cho những người dũng cảm, đầy khao khát và may mắn mới có thể nhìn thấy và bước vào thế giới thủy thần: ở đó bầu trời rất xanh, đôi khi rơi xuống cơn mưa hoa trắng li ti, lất phất bay, thoang thoảng hương. Một dòng sông cũng xanh, nước trong vắt, ngọt lịm và trên cánh đồng ngút ngàn có những con trâu thần nhởn nhơ nhai cỏ...

Chao ôi! Những thế giới chôn chặt niềm khát khao và uẩn khúc của cả một thời thơ ấu! Làm sao tới được khi người ta không liều lĩnh một lần? Đêm nay, tôi quyết lén cha bơi qua sông. Con nước ròng cuồn cuộn chảy, xô tôi mấy lần lệch hướng nhưng tôi không sợ, cứ bơi sấp rồi lại bơi ngửa. Vậy mà khi cố tình vượt qua cái giới hạn đã mấy lần làm tôi nao núng quay về, tôi lại thấy nghẹt thở như có một mũi dao lách vào tim. Sao vậy? - tôi vừa bơi chậm lại vừa dè dặt hỏi một kẻ nhút nhát nào đó đang trì kéo trong con người mình - Tại sao phải trở về? Không! Dù nơi đó là thiên đường hay địa ngục thì tôi cũng phải đến bằng được.

Tôi đứng lặng mấy phút rồi đi qua một khu vườn tạp, uềnh oang tiếng ếch nhái lẫn trong tiếng chó sủa từ xóm nhà lúp xúp le lói mấy ngọn đèn dầu. Tôi tìm được chỗ tốt, một cái lều chứa củi ở góc sân, nơi có thể nhìn rõ vài căn phòng còn sáng đèn. Gian trên rất rộng nhưng vắng lặng, ở đó chỉ có một người đàn ông tóc bạc trắng nhưng gương mặt còn tráng kiện đang ngồi lắc lư trên ghế mây. Chái bếp lợp lá ở cuối sân là nơi má tôi đang lui cui nấu một món gì đó trong chiếc nồi nhỏ. Nấu xong, bà múc thức ăn ra chén, bưng lên gian trên.

Trong khi người đàn ông đang ăn, má tôi qua bộ ngựa bên kia ngồi, với tay lấy chiếc áo màu xanh đơm nút. Ông ta nói một câu gì đó. Má tôi ngẩng đầu lên, mỉm cười, nụ cười gượng gạo, xa vắng. Rồi ông ta lại gần, ngồi sát cạnh, ánh mắt dịu dàng, cánh tay quàng hờ sau lưng má tôi. Không có cảnh vất vả, luôn tay luôn chân cơm nước, giặt giũ, lau dọn hay trông nom đám con cháu nhà chủ ồn ào như tôi hình dung! Trong ngôi nhà vắng, chỉ có người phụ nữ thư nhàn, hạnh phúc với cử chỉ âu yếm của một người đàn ông không phải là cha tôi!

Tôi phải dụi mắt mấy lần. Có cái gì đó thúc hối quẫy đạp khiến tôi đứng dậy, ngơ ngẩn tới đứng ở cửa cái, trân trối nhìn. Má tôi ngửng đầu lên, con mắt mở to dại di, long lanh ngấn nước. Thật lạ, trong cái khoảnh khắc bung vỡ của khối u bị con dao rạch mạnh, tôi quay người bỏ chạy, băng bừa lên gai góc, gạt ngã cây cành mà chạy, tôi nghe tiếng má gọi theo. Má càng gọi, tôi chạy càng nhanh. Tôi nhảy ào xuống sông. Nước xộc vào mũi, vào miệng, vào mắt. Mặc, tôi vẫn cuống quýt quơ tay đẩy nước khi biết rằng má tôi cũng lội xuống nước, bơi riết theo.

Thốt nhiên tôi dừng lại ở giữa dòng. Không, tôi chưa mệt! Sức vóc thằng con trai 16 tuổi đang sôi lên trong giận dữ khiến tôi có thể bơi hai lượt trên quãng sông này. Tôi dừng lại chỉ vì thấy má tôi bị dòng nước mạnh xô lệch hướng rất nhanh về phía vực xoáy. Cánh tay bà chới với, tiếng kêu thất thanh ngập trong nước xiết. Tôi lao nhanh về phía má, vừa bơi vừa khóc, hoảng loạn bởi ý nghĩ phải rượt đuổi từng giây với cái bóng ma dưới đáy nước đang quấn lấy má tôi, lôi xềnh xệch.

Hai trăm mét nước! Chao ôi, cái khoảng cách của sinh tử, của hận thù và tha thứ, căm ghét và yêu thương! Chưa bao giờ trong đời tôi bơi nhanh như vậy. Tôi chộp được bàn tay má. Bà ngoi lên rồi hụp xuống mấy lần, bàn tay cứ vùng vẫy muốn bật khỏi tay tôi, ánh mắt thất thần như một lời van lơn tôi hãy buông bà ra, hãy để cho bà ra đi. Không bao giờ! Tôi bặm môi, rướn tới, ôm được thân thể má rồi kéo bà tách xa dần khỏi lực hút của dòng nước đang cuộn ào ào về vực xoáy giữa sông.

Chính lúc đó tôi cảm thấy tay chân rũ liệt, đầu óc lờ mờ. Dường như có chiếc xuồng nhỏ từ trong lãng đãng bóng đêm bơi gần đến khiến tôi yên tâm, buông thõng cánh tay rã rời khỏi thân thể má...

... Còn tôi ư? Đừng lo! Tôi bơi được mà! Cơ thể tôi mềm nhũn như cá, cứ bềnh bồng trong vùng nước lạnh và tối. Rồi thốt nhiên tôi thấy ánh sáng!... Những luồng sáng rực rỡ từ một khoảng trống mông lung bất ngờ mở ra dưới đáy sông. Tôi bật khóc rồi cười như điên dại khi bơi xuyên qua vùng sáng đó và choáng ngợp trước một thế giới đột ngột bung mở, hiển hiện hết vẻ tráng lệ.

Bầu trời rất xanh, từ đó rơi xuống cơn mưa hoa trắng, lất phất bay, thoang thoảng hương. Dòng sông xanh thẫm và cánh đồng mút mắt cũng mơn mởn một màu xanh kỳ lạ. Những con trâu thần nhởn nhơ đi bên cạnh tôi, lớp lông óng ánh như sợi vàng sợi bạc. Tôi chọn con to nhất đàn, leo lên lưng nó, cúi rạp mình xuống, áp má lên lớp lông vàng mịn, nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu, thật dài. Giấc ngủ thanh thản đến trong lúc tôi nhận ra một nỗi nhớ rất nhẹ lướt qua tiềm thức như cơn gió đi qua bãi sông những đêm trăng sáng khi bầy trâu thần lên ăn cỏ...

... Cha tôi kể khi tôi tỉnh lại rằng tôi đã mê man suốt hai ngày đêm, tay chân lạnh dần, chỉ có vùng ngực còn ấm chút sự sống bám víu, mỏi mòn. Nhưng ngay cả khi má tôi gần như mất trí vì tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng tôi sẽ không bao giờ chết. Vực xoáy nước ấy xưa nay chưa tha cho ai bao giờ. Vậy mà cơ duyên đã xui khiến người đàn ông bên kia sông sau khi vớt được má tôi đã liều lĩnh bơi xuồng trở ra. Ông ta ngạc nhiên khi thấy nước không cuốn tôi xuống tận vực sâu mà đẩy tôi lên trên như một phép mầu.

Nghe cha kể, tôi cười một mình. Tôi biết chính con trâu thần đã đưa tôi trở về. Tôi không kể cho ai nghe những gì đã thấy, chỉ tự bảo vệ một điều xác tín rằng cha tôi đã nói đúng. Ở đâu đó dưới đáy sông kia, có một thiên đường chỉ dành cho những người dũng cảm, mạnh mẽ. Nhưng, thật lạ, chính lúc tìm thấy cái thế giới huyễn tưởng đã mê hoặc tôi suốt thời thơ ấu, trong tôi lại cuộn lên nỗi khát thèm quay lại trần gian.

Tôi không hề ân hận khi trở lại bởi kịp nhận ra rằng chỉ có ở đây, trên cõi người đìu hiu này, tôi mới nhìn thấy được giọt nước mắt và nụ cười thành thực của những người tôi yêu.

NGUYỄN KIM CHÂU

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2009